Recently I have this idea popping up to my mind. The idea is to encrypt and decrypt all the (private) messages on the client side so that everything the sever stores is inherently worthless unless "something" is provided to decrypt it at the user's end.
So I have done exactly that. By encrypting the messages on the client side it's guaranteed that the information stored by facebook isn't accessible by anyone, facebook included, except for the two parties involved.
Demonstration:
Download here
]]>Recently I have this idea popping up to my mind. Can we make a "social network" that is inherently secure? That is, a crypted social network. That will solve the problem of people worrying about their privacy being invaded. RSA crypto or even better, OTR crypto (might be too overkill). All the (private) messages and status updates being flown on the network will be encrypted and decrypted on the client side so that everything the sever stores is inherently worthless unless "something" is provided to decrypt it at the user's end.
My theory: It may be possible.
]]> We might be able to do that by "delivering" status updates from me to my existing friends by crypting any and every status update made by me to my friends' stream with their respective public key.I think it's even possible to piggyback this "cryptedsocial" network over a well-known protocol, such as jabber. That way we can indeed have a protocol with email-grade compatibility. This will leave the implementation/interface/whatever to each provider to implement. The web interface, if there is one, is just simply a front-end, not a requirement. We just have to agree on what the format of the messages between the cryptedsocial clients will be like and how to interpret them.
For example, when it's me huant@nerdsocialnetwork.org connected to abc@freeshell.org, it's just technically huant@cryptedsocial.nerdsocialnetwork.org pushing chats as status updates to handler abc@cryptedsocial.freeshell.org over jabber. It simply my server at cryptedsocial.nerdsocialnetwork.org talking to the server at cryptedsocial.freeshell.org. We can specify what server handles this cryptedsocial-over-jabber with a TXT record for each domain (we have to have a separate server as we don't want to confuse normal jabber with cryptedsocial jabber).
As long as the "cryptedsocial" server caches messages from my friends delivering to me (i.e. "offline messaging"), I can use a modified version of say, Pidgin or Psi to "connect" to it and get updates from my friends every time I log in.
It's easy to see that this solves both. You don't have to really trust the provider being honest with what they promise that they will store on the server, also client side/javascript even 1024bit RSA with is totally, positively possible and will require almost no special setup on the client's side. Javascript RSA is possible (http://cryptico.wwwtyro.net/).
That poses an interesting problem of how do we make semi-public ("friends of friends") status updates, and how new friends that weren't friend with me get status updates I made in the past. This might or might not be a limitation, depending on how you view the problem. It also poese a problem for people with lots of friends, say 5000 because a status update will have to be crypted 5000 times to deliver to each of his friend's stream. But when a person has 5000 friends, they probably doesn't care about their privacy anyway.
I wonder if anyone has any objections or thoughts about this idea.
]]>I work at Truman State University as a IT student worker and the office where I work in is rather special because it has big blinds behind a huge glass window. Often my boss would decorate it with pictures of her beautiful kids. I decided I can do something better than that: A fancy, interactive picture frame.
]]>
How the office looked like before the revamp.
The plan
I can't put the "picture frame" outside, as there are three problems with it:


So the picture frame has to stay inside. And so there will be no funny stuff: No touching, no pushing. So I decided it's time to pull out some fancy tricks with the accelerometer built-in with the microtouch. People would have to slightly knock the glass to advance pictures.
The software
I downloaded the microtouch SDK by Rossum from his git repo and modified the ViewApp. Note that we want it to be the shell also, so the INSTALL_APP macro needs changed a bit.
Editing the source code is trivial, all you have to do is to define a threshold for how sensitive the accelerometer needs to be, then just sample the readings every now and then.
I have created a git repo, feel free to clone and extend.
Next step is to put a FAT32-formatted microSD card into your computer's card reader, use the MicroTouchTool to sideload the picture you want, save the file as INIT.IM2 and shove it into the Microtouch.
The frame
To create the frame, I decided to go cheap and print out a sheet of paper, then cut a hole for the frame:


The result
Compile, flash the firmware, then BAM! Hide yo' kits, hide yo' wires cuz we have ev'ry beautiful picture out there:

The only thing that I can hope is that people won't knock the glass window down.
]]>Một câu chuyện quá phi thường đến mức nó có thể làm cho bạn cảm thấy đáng thương thay cho công ty điện thoại.
]]> Chiếc Hộp Xanh ra mắt: Chất lượng của nó thật đáng ghi nhận.Tôi đang ở trong căn phòng được trang trí xa hoa của Al Gibertson*, cha đẻ của "chiếc hộp xanh." Gilbertson đang cầm gọn trong lòng bàn tay một trong những chiếc "Hộp Xanh" bóng bẩy, giới thiệu cho tôi mười ba nút bấm nhỏ màu đỏ ở phía trên chiếc hộp. Anh múa những ngón tay của mình trên những núm bấm, hòa âm nên một bản nhạc điện tử lạc điệu. Anh muốn giải thích cho tôi làm cách nào mà chiếc hộp xanh nhỏ này khiến cả hệ thống điện thoại của cả thế giới, vệ tinh, dây cáp và tất cả mọi thứ liên quan biến thành một tổng đài viên, miễn phí.
"Nó làm được như vậy đấy. Tóm lại nó mang đến cho anh sức mạnh của một tổng đài viên quyền lực nhất. Anh chiếm quyền của một mạch chuyển với cái nút trên cùng," anh ta ấn nút trên cùng bằng ngón trỏ và chiếc hộp màu xanh phát ra một tiếng bíp tần số cao, "và thế là" -- cái hộp xanh phát ra một tiếng bíp khác -- "anh kiểm soát được hệ thống chuyển mạch đường dài của công ty điện thoại từ cái điện thoại Công chúa nhỏ của anh hay bất cứ buồng điện thoại công cộng bình thường nào. Và anh cũng không bị lộ danh tính. Một tổng đài viên phải làm việc ở một địa điểm cố định: công ty điện thoại biết chị ta đang ở đâu và chị ta đang làm gì. Nhưng với cái hộp phát tín hiệu này, một khi anh nối bất kỳ tới một điểm nào, ví dụ như từ số của Holiday Inn** 800 [số miễn phí], họ không biết anh ở đâu, anh từ đâu đến, họ không biết làm cách nào anh có mặt trên đường điện thoại của họ và làm cách nào anh xuất hiện ở số 800 đó. Họ cũng không thấy được bất cứ một dấu hiệu truy cập trái phép nào. Và anh giấu tung tích của mình qua bao nhiêu lớp tùy thích. Anh gọi số nhà hàng xóm bắt đầu từ White Plains, sau đó tới Liverpool bằng cáp ngầm, và quay trở lại đây bằng vệ tinh. Anh có thể gọi chính mình từ một buồng điện thoại công cộng chuyển mạch đi khắp thế giới trở lại buồng điện thoại công cộng kế bên cạnh anh. Và anh cũng được nhận lại đồng xu nhét vào luôn."
"Và họ không thể lần được ra nguồn gốc cuộc gọi? Họ không thể thu tiền anh?"
"Không thể, nếu anh làm đúng cách. Nhưng anh sẽ nhận ra là việc gọi điện thoại chùa không khoái bằng thứ quyền lực anh có khi anh có một em này trong tay. Tôi đã chứng kiến nhiều người khi họ có trong tay thứ này, và phát hiện ra họ có thể kết nối tới nơi khác, thiết lập các kết nối phức tạp chồng chéo zíc-zắc chuyển đường dây qua lại trên toàn thế giới. Họ hầu như không thể mở miệng ra nói khi nối máy tới được người muốn gọi. Họ chào một câu và ngay lập tức nghĩ tới sẽ gọi đi đâu tiếp. Họ phát cuồng." Anhh ta nhìn xuống cái hộp nhỏ bé trong tay mình. Anh vẫn múa ngón tay, ấn nút tạo ra những nhịp bíp.
"Tôi nghĩ kích cỡ là một yếu tố quan trọng. Có nhiều loại hộp xanh ở trên thị trường, nhưng những cái của tôi là loại nhỏ nhất và tân tiến nhất về mặt điện tử. Ước gì tôi có thể cho anh xem cái sản phẩm mẫu mà chúng tôi làm cho một khách hàng lớn vừa rồi."
Anh thở dài. "Chúng tôi có đơn đặt hàng một ngàn hộp từ một ông lớn ở Las Vegas. Họ dùng các hộp này để đặt cá cược từ bờ Tây sang bờ Đông, để máy hàng giờ liền, tất cả những việc đó đều rất đắt nếu anh phải trả phí. Hợp đồng là một ngàn hộp xanh, mỗi cái $300. Trước đó chúng tôi bán $1,500 một cái, nhưng mà $300,000 một cục thì khó mà bỏ qua được. Chúng tôi có một hợp đồng sản xuất ở Philippines. Mọi thứ sẵn sàng. Cái loại được sản xuất hàng loạt đó nhỏ đến nỗi có thể nhét vừa một hộp thuốc lá Marlboro. Nó có nút bấm chìm, chứ không lồi ra như cái loại này. Trông như cái radio bỏ túi. Thật ra, tôi gắn cho nó cả một cái máy thu radio thu một kênh AM, ngộ nhỡ nhà chức trách có nghi vấn thì người chủ có thể bật phần radio lên, bấm nút, và không ai biết rằng có việc gì phạm pháp đang xảy ra. Tôi nghĩ mọi trường hợp cho cái model này -- Tôi lắp cho nó cả một dải chất cháy nhận lệnh từ tín hiệu radio phát ra từ một cái nút bấm nhỏ xíu ở trên thắt lưng, để nó có thể tự cháy thành tro nếu bị cảnh sát ập đến bất ngờ. Thật là đẹp đẽ. Một chiếc máy nhỏ nhắn đẹp đẽ. Anh phải nhìn mặt những ông lớn đó khi họ quay trở lại sau khi thử. Họ cầm cái máy trong tay như thể không bao giờ muốn rời ra, và họ nói 'Tôi không thể tin được. Không thể tin được.' Anh có thể không tin cho đến khi anh được thử tận tay."
__
* Tên nhân vật đã được thay đổi.
** Holiday Inn là một chuỗi khách sạn nổi tiếng ở nước Mỹ.
*****
Chiếc Hộp Xanh được thử nghiệm: Thêm một số mối liên hệ.
Vào lúc mười một giờ hai tối hôm sau Fraser Lucey cầm một chiếc hộp xanh* trong lòng bàn tay trái và một chiếc điện thoại trong lòng bàn tay phải. Anh ta đứng trong một cái hộp điện thoại công cộng kế bên một cái nhà nghỉ biệt lập đã đóng cửa cách xa Đường cao tốc 1. Tôi đứng bên ngoài.
Fraser thích khoe mọi người cái hộp xanh của mình. Anh ta vẫn thích mang chiếc hộp xanh của mình đến các buổi party cho đến tận một vài tuần trước khi công ty điện thoại Pacific tiến hành một vài vụ bắt bớ ở trong thành phố anh ta đang sống. Nó chưa bao giờ làm mọi người thất vọng: chỉ cần thiết bị của anh phát vài tiếng bíp là Fraser trở thành tâm điểm chú ý nóng nhất của các buổi hội hè, trình diễn các mẹo vặt với điện thoại và quay số theo yêu cầu hàng giờ. Anh ta bắt đầu nhận đặt hành từ nhà máy đóng tại Mexico. Anh ta bắt đầu kinh doanh.
Bây giờ Fraser thận trọng hơn với việc chọn nơi khoe hộp xanh của mình. Nhưng anh ta chưa bao giờ chán chơi với nó. "Lần nào cũng như lần đầu," anh nói với tôi.
Fraser bỏ một đồng dime vào trong khe. Anh lắng nghe tín hiệu và đặt ống nghe lên tai tôi. Tôi nghe thấy tín hiệu [đường dây rỗi].
Fraser bắt đầu mô tả, [with a certain practiced air], giải thích anh ta đang làm gì.
"Bây giờ tôi đang gọi một số 800. Số 800 nào cũng được. Các số đó miễn phí. Hôm nay tôi nghĩ tôi sẽ chọn số 800 ----- (anh ta chọn một số của một công ty cho thuê xe tự lái danh tiếng). Nghe, đang đổ chuông đấy. Đây, anh nghe thấy chưa? Bây giờ xem đây."
Anh ta đặt cái hộp xanh lên trên ống nói của cái điện thoại sao cho cái nút màu bạc và mười hai nút màu đen khác hướng về phía tôi. Anh ta ấn nút màu bạc - cái ở phía trên cùng - và tôi nghe thấy một âm tần số cao."
"Chính xác đấy là 2600 dao động trong một giây," Lucey nói. "Bây giờ, khẩn trương. Nghe."
Anh ta dí cái ống nghe vào tai tôi. Tiếng chuông tự dưng tắt. Đường dây ngắt trong một thời gian ngắn, theo đó là một tiếng bụp mạnh, và sau đó không có gì ngoài âm nhiễu."
"Bây giờ chúng ta muốn làm gì thì làm," Lucey nói với tôi, rồi thu chiếc điện thoại trở lại và dí cái hộp xanh vào phần ống nói. "Bây giờ chúng ta đang chiếm một tổng đài tadem, ở một trạm đường dài. Khi anh chiếm được tổng đài tadem rồi, anh muốn đi đâu tuỳ thích." Anh ta quyết định xem London thế nào trước. Anh chọn kỹ lưỡng một trạm điện thoại công cộng ở Sân ga Waterloo. Trạm điện thoại công cộng này được giới dị tặc** biết đến vì thường giờ nào cũng có người qua lại và nhấc điện thoại lên nói chuyện một lúc.
Anh ấn nút phía bên dưới trái có in chữ "KP" trên mặt cái hộp.
"Đấy là nút Key Pulse. Nó chỉ huy tổng đài tadem là chúng ta sắp sửa gửi lệnh. Bây giờ tôi sẽ nhập KP 182 START, lệnh này sẽ đưa chúng ta tới đầu phía bên kia bờ biển ở White Plains." Tôi nghe một tiếng păng-bíp gẫy gọn. "Tôi nghĩ chúng ta nên tới Anh bằng vệ tinh. Cáp thường nhanh hơn và kết nối hơi tốt hơn, nhưng tôi thích đi qua vệ tinh. Cho nên tôi sẽ nhập vào KP Không 44. Số Không sẽ bảo đảm kết nói qua vệ tinh và 44 là mã điện thoại nước Anh. Được rồi... Chúng ta đã đến nơi. Thật ra là đến Liverpool. Bây giờ tất cả việc tôi cần làm là nhập vào mã vùng London vốn là số 1, và gọi đến số trụ điện thoại công cộng. Đây này, nghe, tôi có tiếng đổ chuông đây."
Tôi nghe tiếng tu-tu nhỏ và gấp của điện thoại London. Đoạn có một người nhấc máy. "Xin chào," một giọng London nói.
"Chào. Ai đấy?" Fraser hỏi.
"Chào. Thật ra chẳng có ai ở đây. Tôi chỉ tình cờ đi qua và nhấc máy. Đây là một trụ điện thoại công cộng. Ở đây không có ai trả lời máy cả."
"Chào. Đừng cúp máy. Tôi đang gọi từ Mỹ."
"Ồ. Anh gọi làm gì? Anh nên biết đây là một trụ điện thoại công cộng."
"Ồ. Anh biết đấy. Tôi gọi xem, à, xem có gì đang xảy ra ở London. Thế ở đấy thế nào?"
"Đang là năm giờ sáng. Bây giờ đang mưa."
"Ồ. Thế anh là ai?"
Người khách qua đường ở London hoá ra là một người lính mới gia nhập Không Quân Hoàng gia đang trên đường trở về đơn vị ở Lincolnshire, và đang bị say sau ba mươi sáu giờ tập. Anh ta và Fraser nói với nhau về trận mưa. Họ đồng ý với nhau rằng giá mà không mưa thì tốt hơn. Họ chào nhau và Fraser cúp máy. Đồng dime của Fraser được nhả trở lại với một tiếng tách giòn.
"Xa nhỉ," anh nhếch miệng cười với tôi. "London. Như thế đấy."
Fraser nắm chiếc hộp xanh nhỏ một cách một cách âm yếm trong lòng bàn tay. "Tôi nói anh nghe cái này là đồ xịn. Nghe, nếu anh không phiền tôi sẽ thử gọi cô em này ở Paris. Tôi thường gọi cô em ấy vào giờ này. Làm cổ hết hồn. Lần này tôi sẽ dùng số 800 của ----- (một công ty cho thuê xe tự lái khác) và chúng ta sẽ dùng cáp ngầm qua biển, 133, 33 là mã quốc gia của Pháp, số một nối anh qua cáp. Được rồi, nào thì gọi... Ôi mẹ kiếp. Máy bận. Cổ nói chuyện với ai giờ này nhỉ?"
Một xe cảnh sát đi tuần chậm rãi qua nhà nghỉ. Cái xe không dừng lại, nhưng Fraser tỏ vẻ căng thẳng. Chúng tôi quay trở lại xe của anh ta và lái mười dặm theo hướng ngược lại cho đến khi chúng tôi gặp một trạm đổ xăng Texaco không hoạt động vào đêm. Chúng tôi ghé lại một trạm điện thoại kế bên cái vòi bơm lốp xe. Fraser vội trở vào trong trạm điện thoại và gọi số ở Paris. Lại bận nữa.
"Tôi không hiểu cổ gọi ai được. Cũng có thể mạch chuyển bận. Chán quá tôi chưa kịp học cách nhảy vào cáp ngoài biển với cái này."
Fraser bắt đầu dị tặc đi lung tung, như từ giới dị tặc nói. Anh ta gọi đi một số 800 của một công ty điện thẻ trả trước toàn quốc và ấn ra tần số để nối anh ta tới hãng băng đĩa Time ở Sydney, Úc. Anh ta bấm đến số Dự báo thời tiết ở Rome, dĩ nhiên là bằng tiếng Ý. Anh ta gọi một người bạn ở Boston và nói về cổ phiếu OTC mà cả hai cùng rất quan tâm. Anh ta lại thử số Paris nhưng vẫn bạn. Anh ta gọi đến số "Nhạc theo yêu cầu" ở Lôndn, và chúng tôi cùng nghe Double Barrel của David và Ansil Collins, bài đang đứng đầu bảng xếp hạng trong tuần ở London. Anh ta gọi một người bán cái gì đó và trao đổi bằng mật khẩu. Anh ta gọi Joe Engressia, thiên tài dị tặc khiếm thị đầu tiên, và thể hiện niềm kính trọng của mình. Và còn các cuộc gọi khác. Cuối cùng Fraser cũng gọi được cho quý cô kia ở Paris. Cả hai cùng đồng ý là mạch chuyển hẳn phải là bận, và chỉ trích mạng điện thoại ở Paris. Tới hai giờ ba mươi sáng Fraser cúp máy, bỏ vào túi đồng dime, và lái xe đi, một tay lái vô lăng, tay kia cầm cái mà anh ta gọi là "cái hộp xanh nhỏ nhắn dễ thương" của mình.
___
* Cái hộp xanh này, như hầu hết các hộp xanh khác, không có vỏ màu xanh. Gọi là "hộp xanh" có thể: 1) vì cái hộp xanh đầu tiên bị công ty điện thoại thu giữ chẳng may có vỏ màu xanh, or 2) để phân biệt với "hộp đen." Hộp đen là các thiết bị, thường là một loạt điện trở nối với nhau, khi nối vào điện thoại ở nhà thì giúp nhận tất cả các cuộc gọi mà bên gọi không phải trả tiền.
** Phreaker: Freak (lập dị) + Phone/Hacker (điện thoại/"tặc"). Dị tặc?
*****
(còn nữa...)
]]>The world in the iPod. Salon.com, chuyên mục Chính trị. Ngày 3 tháng 6, 2005. Wasabi dịch. 6/2010.
Lời tác giả: Bộ vi xử lý điều khiển chiếc máy nghe nhạc nổi tiếng của Apple được chế tạo ở Ấn Độ, Đài Loan, Trung Quốc và Thung lũng Silicon. Có phải đây là một ví dụ của việc toàn cầu hoá làm lợi cho tất cả mọi người -- hay là một dấu hiệu của việc nền kinh tế đang lăn bánh khỏi nước Mỹ?
]]> Hãy mở một chiếc iPod ra và bạn nhìn thấy gì? In trong vi mạch bán dẫn là lộ trình cho nền kinh tế của thế giới: toàn cầu hoá, thuê nước ngoài, triển khai ra nước ngoài, gắn kết và phức tạp. Hãy nhìn vào các linh kiện của nó: Chiếc ổ cứng (1), bảng mạch, chiếc click-wheel, cục pin và tất cả những thứ khác. Chiếc iPod là một điển hình về thành công của Apple, nhưng điều cần lưu ý đầu tiên là Apple không ``làm ra" nó. Công ty của Steve Jobs và cộng sự (Apple-- ND) điều hành thiết kế chung, nhưng những linh kiện thì lại được lắp ở Trung Quốc bằng hai doanh nghiệp Đài Loan.Câu chuyện này không có gì đáng ngạc nhiên cả. Việc sản xuất các linh kiện điện tử tiêu dùng đã chuyển qua Châu Á tới hàng thập kỷ. Các công ty Đài Loan đang mở nhà máy ở Trung Quốc cũng đang nối gót những người tiền bối phương Tây -- lý do là chi phí rẻ hơn. Họ không cô độc. Hầu như tất cả những nhà sản xuất linh kiện iPod khác cũng đang lên đường thẳng tiến tới Trung Quốc.
Chúng ta hãy cùng đi sâu hơn, vào bộ não của chiếc iPod, bộ vi xử lý điều hành chiếc máy nghe nhạc. Được thiết kế bởi một công ty ở Thung lũng Silicon mang tên PortalPlayer, chiếc chip vi điều khiển này là vật chứng cho phương thức vận hành của thế giới hiện đại. Đặt trụ sở ở Hoa Kỳ, PortalPlayer làm cho chiếc chip của mình được gắn vào trong chiếc máy nghe nhạc rất được hâm mộ này bằng cách thuê nước ngoài và chia từng bước nhỏ của việc thiết kế và sản xuất chiếc chip cho những doanh nghiệp nước ngoài. Bằng cách làm việc ngày đêm với nhiều đội kỹ sư trên toàn cầu cho ra đời bản thiết kế và phần mềm thiết yếu, PortalPlayer không ngừng mang đến những phiên bản mới của chiếc chip, với mỗi bản mới ngày càng rẻ và mạnh mẽ hơn bản trước đó, mang lại nhiều tính năng hơn trong khi lại tiêu thụ ít điện năng hơn.
PortalPlayer là một thành công. Công ty này bây giờ (2005 -- ND) đã được niêm yết trên sàn NASDAQ và thu lợi nhuận. Nhưng nếu bạn đi thăm trụ sở của PortalPlayer ở Santa Clara, California vào một ngày tháng tư, thì cái mà bạn nhìn thấy là một bảng quảng cáo lớn đập vào mắt với dòng chữ ``Có văn phòng cho thuê'' như xu hướng chung của thành phố nay. Thành phố Santa Clara, hoá ra đang có khoảng 28 phần trăm văn phòng không có công ty nào thuê, tỷ lệ văn phòng trống tồi tệ nhất ở Khu vực Bay Area. Còn tệ hơn, khu vực San Jose, trái tim của Thung lũng Silicon, đã sa thải khoảng 200,000 lao động trong bốn năm trở lại đây.
Nhưng ngành công nghiệp sản xuất chip chưa rời bỏ Thung lũng Silicon. Intel, vị vua của ngành công nghiệp này, vẫn đang có trụ sở ở đây, cũng như hàng tá các công ty có liên quan đến ngành sản xuất công nghệ bán dẫn. Thị trường cho các vi mạch bán dẫn đang lớn lên và Thung lũng có một miếng bánh không nhỏ. Nhưng tình hình việc làm và các con số đã cho thấy một câu hỏi tất yếu về sự thành công của PortalPlayer: Liệu xu hướng thuê nước ngoài các việc liên quan đến công nghệ cao, hoặc là tường minh hơn, các công việc đòi hỏi hiểu biết về công nghệ cao, đã làm Thung lũng Silicon yếu đi, hay nói rộng hơn, là nền kinh tế Hoa Kỳ?
Đó là một câu hỏi đau đầu với rất nhiều mâu thuẫn. PortalPlayer không làm gì sai; trái lại, họ đã làm đúng những gì họ nên làm, với yêu cầu của thị trường và trách nhiệm với những cổ đông của họ. Nhưng thế thì ảnh hưởng của một ngàn công ty như PortalPlayer, cũng làm việc này và chuyển việc làm và công nghệ từ Hoa Kỳ tới các nơi khác trên toàn thế giới?
Các nhà chỉ trích lo lắng về thâm hụt xuất khẩu, tỉ lệ thất nghiệp, và cả an ninh quốc gia. Họ cho rằng chính Hoa Kỳ đã gieo mầm cho sự xuống dốc của mình bằng cách chuyển việc và công nghệ tới các siêu cường tương lai như Ấn Độ hay Trung Quốc.
Các nhà bảo vệ của Thung lũng Silicon cũng có lập luận không kém phần thuyết phục rằng là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là đầu tàu của "con tàu giá trị". Họ nói rằng những vấp váp trong kinh tế mà ngành công nghiệp chip của Thung lũng đang gặp phải chỉ là một phần của quả bom tuần hoàn lâu ngày. Họ vẽ ra một "tam giác vàng", quy luật thế giới mới trong đó mỗi dân tộc đóng góp được phần mà họ làm tốt nhất -- phát triển phần mềm giá rẻ ở Ấn Độ, sản xuất ở Trung Quốc, thiết kế ý tưởng ở Hoa Kỳ -- tất cả cùng làm việc.
Ai đúng, sai sai? Cũng như bạn càng tìm hiểu về một chip vi xử lý thì thiết kế của nó càng trở nên phức tạp, lời giải của bài toán đánh giá ảnh hưởng của toàn cầu hoá cũng như vậy.
Một số điểm cần lưu ý. Việc kiếm xu với đồ high-tech chưa bao giờ khó khăn như thời điểm hiện tại và việc cạnh tranh sẽ chỉ làm cho nó trở nên ngày càng vất vả hơn. Những yếu tố vận động của thế giới đang thay đổi và không chỉ vì các công ty ở Hoa Kỳ đi ra nước ngoài tìm kiếm lao động giá rẻ. Cùng với những quyết định chiến lược của các công ty, những bước đi chính trị của những quốc gia nước ngoài cũng góp một vai trò quan trọng trong việc ai sẽ làm thống soái những ngành công nghiệp của một tương lai high-tech.
Khi mà các công ty ở Thung lũng Silicon mải lo kiếm tiền, những quốc gia Châu Á phía Đông tìm các biện pháp để xây dựng cả ngành công nghiệp. Khi một bên thuê nước ngoài, thì bên kia sẽ cố gắng ăn nhanh. Sự chấp thuận đẩy các bước sản xuất của các công ty chip của Hoa Kỳ tới, cho ví dụ, Trung Quốc cũng đồng thời tiếp tay cho ý định của Trung Quốc trở thành kẻ thống trị thế giới trong một trong những ngành công nghiệp then chốt trong nền kinh tế hiện đại.
Mở một chiếc iPod và tháo chiếc chip PortalPlayer ra. Nhìn vào con chip, thấy cả thế giới.
--
Ngày 3/6/2005 | Năm 1999, Gordon Campbell, một nhà đầu tư mạo hiểm với kinh nghiệm đầy mình trong ngành công nghiệp chip, gõ cửa một trong những nhà khổng lồ lâu năm của Thung lũng Silicon, National Semiconductor (Công ty bán dẫn National), với một ý tưởng: Công ty này nên chế tạo một con chip nhắm đến thị trường máy nghe nhạc MP3.
Ý tưởng này hơi đi trước thời đại một chút -- Napster lúc đó còn chưa làm lớn và ngành công nghiệp âm nhạc còn chưa từ bỏ ý định sẽ kiện kẻ đi tiên phong trong mảng máy nghe nhạc MP3, chiếc máy Diamond Rio (digital audio players) . National Semiconductor nói không, xin cảm ơn.
Nhưng theo một báo cáo đã công bố, CTO (Giám đốc công nghệ) của National, John Mallard, chạy theo Campbell tới bãi đỗ xe. Chỉ thời gian ngắn sau đó, theo đúng tác phong nhanh nhẹn của Thung lũng, sáu viên chức cấp cao của National nhảy sang con tàu mới và thành lập PortalPlayer. Ngay trước mồm đầy răng của con cá mập cách mạng công nghệ đang sắp chết.
Michael Maia, chánh văn phòng của PortalPlayer, cười to khi người ta kể câu chuyện về bãi đỗ xe, nhưng ông ta không xác nhận cũng không bác bỏ. Tuy vậy, ông ta đồng ý rằng khởi động một công ty vào cuối 1999, ngay trước khi nền thị trường công nghệ chạm đến đáy, "là một thời điểm thú vị để khởi động một doanh nghiệp."
Điều thú vị, thực ra, là thành công đòi hỏi những suy nghĩ sáng tạo, không chỉ ở thiết kế kỹ thuật của cong chip, mà còn ở cả cách điều hành doanh nghiệp nữa. Về mảng sản xuất, PortalPlayer đã chọn con đường mòn mà Thung lũng đã đi qua ít ra là một thập kỷ. Đó là một xưởng thiết kế không có nhà máy sản xuất (``fabless'') -- gọi như thế vì PortalPlayer không sản xuất ra chip của họ. Công việc đó sẽ thuê Đài Loan làm. Nhưng PortalPlayer có một thủ thuật nhỏ: Thiết kế của con chip, một công việc vô cùng phức tạp và và tốn rất nhiều lao động bao gồm cả thiết kế phần cứng và phần mề, sẽ được chia cho cả trụ sở ở Hoa Kỳ và một chi nhánh riêng ở Hyderabad, Ấn Độ.
"Ngay từ ban đầu, chúng tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ mở một chi nhánh Ấn Độ lớn, vì nguồn độ che phủ của tài nguyên phần mềm của Ấn Độ là cực kỳ to lớn," Maia nói. Ba trong số sáu người sáng lập của PortalPlayer có dòng dõi Ấn Độ.
Một trong những logic của thị trường tư bản giãy chết là yếu tố chính trị hay dòng dõi chiếm một nhân tố rất nhỏ trong hành động kiếm tiền kiểu tiến hóa Darwin của từng công ty. Ở Thung lũng Silicon, những doanh nghiệp mới thành lập mà không có một thành phần Ấn Độ ở trong kế hoạch kinh doanh sẽ nhận được một cái nhún vai lạnh lùng từ các nhà đầu tư mạo hiểm. Có phải ông muốn được coi như trò đùa không?
Ngày nay (2005 -- ND), PortalPlayer có chừng 194 người. Khoảng một nửa trong số đó ở Hyderabad. Khoảng 50 người khác đang ở San Jose (công ty vừa mới chuyển trụ sở từ Santa Clara vào tháng năm). Khoảng 30 ở Kirkland, Washington, cách trụ sở của Microsoft và RealNetworks, hai nhà cung cấp nhạc trực tuyến sừng sỏ 15 phút.
Cách thiết lập này có mấy điểm lợi. Thứ nhất là chi phí quản lý. Các kỹ sư Ấn Độ rẻ hơn các kỹ sư Hoa Kỳ mà lại có thể làm những việc yêu cầu khả năng tương đương. Điều quan trọng hơn, trong thế giới siêu-cạnh-tranh cả về thiết kế chip và điện tử dân dụng này, thì sức ép của thời gian trong vòng tuần hoàn của một sản phẩm là liên tục. Chỉ càn chậm trễ trong việc mang tới cho thị trường một sản phẩm phiên bản mới thôi cũng có thể giáng một đòn chí tử lên doanh nghiệp. Bất cứ công ty nào ở Thung lũng, công ty dù là ở Hoa Kỳ hay là, ngày càng nhiều, hải ngoại đều thích có hợp đồng với Apple. (Thực tế, chiếc iPod Shuffle sử dụng bộ nhớ Flash thay vì ổ cứng, dùng một con chip của một đối thủ cạnh tranh (của PortalPlayer -- ND).) Tất cả họ (Apple -- ND) cần là chỉ một chút hơn về công nghệ, giá cả, mức tiêu thụ điện năng, chức năng, để làm đối tác.
Áp lực cạnh tranh đã bắt PortalPlayer, cũng như nhiều công ty giống họ, có một chu kỳ làm việc 24 giờ. Mỗi sáng và tối, các kỹ sư của PortalPlayers ở Hoa Kỳ có một cuộc gặp mặt trực tuyến với những người ở Ấn Độ. Mỗi bên sau đó có thể bàn giao những việc đã làm cho bên kia, kiểm tra lỗi, hoặc là tiếp tục làm cùng nhau. Từ Hyderabad cho tới Santa Clara, mặt trời không bao giờ lặn ở PortalPlayer.
Thành công không phải một sớm một chiều. Tại một thời điểm trong quá khứ, kế hoạch của họ là làm một máy ghi CD; ở một thời điểm khác, những chức sắc của PortalPlayer tiến hành chuẩn bị để lao vào cuộc chơi âm nhạc trực tuyến. Nhưng vào mùa hè năm 2001, chiếc chip mà được đánh giá là mang lại âm nhạc trung thực và nhiều khả năng mở rộng hơn chín đối thủ khác của PortalPlayer, giành được hợp đồng của Appple. "Tôi khá ấn tượng với PortalPlayer," Shyam Nagrani, một nhà phân tích ở iSuppli, một đơn vị chuyên theo dõi các tiến triển của nền công nghiệp bán dẫn. "Sản phẩm của họ dĩ nhiên rất là tốt." Từ đó, nguồn tài chính của công ty lớn lên với chiếc iPod. (PortalPlayer từ chối bình luận về mọi vấn đề liên quan đến quan hệ với Apple, và Apple, cũng là quy luật thông thường, cũng không bình luận về đối tác cung cấp của mình.)
Tuy vậy, ngay cả sau khi có sự hỗ trợ của Appple, con đường của PortalPlayer vẫn gập ghềnh. Mallard rời công ty tháng 12 năm 2002 ("để theo đuổi những niềm đam mê" Maia tiết lộ), và cuộc sa thải tạm thời vào năm 2003. Nhưng sau khi công ty niêm yết cổ phiếu vào tháng 11 năm 2004, đã có hai quý làm ăn có lợi nhuận liên tiếp, và tổng số iPod bán ra được ước tính đạt tới 35 triệu máy vào cuối năm 2006.
``Để thu được một triệu [đô la lợi nhuận] đầu tiên thì khó,'' Maia nói, ``nhưng mỗi triệu đô la sau đó thì đến với tốc độ nhanh hơn.''
``Khi chúng tôi nói chuyện với khách hàng,'' Michael Maia nói, ``điều mà tôi nói là, chúng tôi là một xưởng sản xuất phần sụn (firmware) nhưng chúng tôi cũng sản xuất cả chip bán dẫn nữa.''
Điều mà Maia muốn nói là giá trị mà PortalPlayer mang lại không nằm chủ yếu ở trong thiết kế phần cứng của con chip của họ mà ở phần mềm mà công ty này thiết kế để có thể sử dụng hết khả năng của con chip.
``Phần sụn'' (``Firmware'') là một từ kêu để nói về phần mềm được nhúng trực tiếp vào phần cứng và thường không được người dùng cuối thay đổi. Ở trong trường hợp của PortalPlayer, cụm từ này nói đến khoảng một triệu dòng lệnh, một hệ điều hành thu nhỏ mà có khả năng làm tất cả mọi tác vụ của một chiếc máy nghe nhạc tối tân. Các tác vụ đó bao gồm mã hoá tin hiệu âm thanh, cung cấp khoá chống sao chép điện tử, một chương trình cơ sở dữ liệu để quản lý hàng ngàn tập tin -- nhạc, anh và dần dần có cẻ video nữa -- được lưu ở một chiếc ổ cứng có thể tích rất bé (Máy iPod năm 2005 sử dụng chủ yếu ổ cứng -- ND), và được móc nối với tất cả các công nghệ khác đi kèm với chiếc iPod.
Hàng triệu dòng lệnh đó là lợi thế cạnh tranh của PortalPlayer, đó là sở hữu trí tuệ mà làm cho các bài hát trên chiếc máy iPod của bạn nghe hay và chiếc máy dễ sử dụng. Những dòng lệnh đó được các kỹ sư của PortalPlayer làm việc ở Santa Clara và Kirkland, và công ty tư nhân 100% vốn ở Hyderabad, Ấn Độ viết. Mọi thứ khác mà có thể có đơn vị thứ ba làm thì đều được các đơn vị thứ ba làm.
PortalPlayer cũng không làm cái cấu trúc cơ bản của chiếc chip của họ. Bước đầu tiên của dây chuyền là mua li-xăng của công ty thiết kế chip ARM ở Vương quốc Anh, một công ty được thành lập năm 1990 bởi Apple và hai đơn vị khác.
--
Khởi đầu từ bản mẫu chip ARM đó, các kỹ sư của PortalPlayer bắt đầu thay đổi cơ cấu sao cho phần cứng được tối ưu hoá cho các chức năng cần thiết cho một cái máy nghe nhạc số. Đây là một công việc khó khăn, phức tạp. Một con chip là một miếng silicon có hàng triệu đèn bán dẫn được sắp xếp với nhiều lớp và cấu trúc kết nối lẫn nhau rất phức tạp. Khi các kỹ sư của PortalPlayer xem lại thiết kế của mình, con chip phải trải qua một loạt các công đoạn kiểm tra và thử nghiệm kỹ lưỡng để chắc chắn rằng các thay đổi này làm việc được.
Nhưng ngay cả một phần của những việc này cũng được thuê nước ngoài. PortalPlayer làm việc với hai công ty thiết kế vi mạch bán dẫn khác ở Thung lũng Silicon, eSilicon và LSI Logic -- họ giúp làm những chi tiết của công việc chuyển thiết kế sang phần cứng chạy được.
Một khi thiết kế kỹ thuật được vạch ra và và con chip mẫu làm việc ở trong phòng thí nghiệm, thiết kế này được gửi đến ``xưởng sản xuất wafer '' (``wafer fab''), một xưởng để khắc các đĩa silicon với các đường chỉ phân bố ở nhiều lớp.
PortalPlayer phải dựa vào hai ``nhà máy,'' (``foundry/ies'') từ để chỉ các công ty chuyên làm chip theo yêu cầu. Cả hai đều có trụ sở ở Đài Loan: Taiwan Semiconductor Manufacturing Corp. (TSMC -- Công ty Sản xuất Bán dẫn Đài Loan) và United Microelectronics Corp. (UMC -- Công ty Vi điện tử Thống nhất). Đây là nơi mà, Maia nói, ``tiền tấn'' được sử dụng. Sản xuất fab là một quá trình bao gồm hàng trăm công đoạn và các thiết bị vô cùng đắt đỏ. (Một nhà máy sản xuất chip tốn khoảng ba tỉ đô la để mua.) (Tức là thay vì mua đường sắt tốc độ cao có thể mua độ khoảng 20 cái nhà máy sản xuất chip tiền tấn -- ND.)
Các ``nhà máy'' này sản xuất ra hàng ngàn các wafer có hình đĩa, trên mỗi cái đĩa có hàng trăm con chip. Các wafer này sau đó được mang đến các nhà máy khác chuyên kiểm ra và đóng gói chip. Đầu tiên các wafers này phải được cắt ra thành từng con chip một, hoặc gọi là ``lõi,'' và sau đó mỗi chip phải được kiểm tra để chắc chắn rằng nó không có lỗi. Cuối cùng nó được phủ một lớp nhựa và sẵn sàng lắp đặt. PortalPlayer sử dụng ahi công ty khác nhau cho phần việc này, SiliconWare ở Đài Loan và Amkor ở Hàn Quốc.
Sản phẩm cuối cùng được vận chuyển đến một nhà kho ở Hồng Kông, và sau đó một nhà máy lắp ráp ở Thượng Hải nơi mà các con chip được gắn vào bảng mạch và lắp vào trong chiếc iPod. Và công đoạn cuối cùng? Chiếc iPod được cho vào trong một chiếc máy bay của FedEx để đưa đến cửa nhà bạn.
Và đó, nói ngắn gọn, là cách vận hành của một xưởng thiết kế ``fabless'' -- không nhà máy -- vận hành.
Nhưng tất cả điều đó nghĩa là gì?
Đến tận giữa thập niên 80, mỗi công ty bán dẫn thường tự mình đảm nhận tất cả các bước, từ thiết kế cho tới đóng gói thành phẩm. Các công ty như thế là các công ty "tích hợp dọc" -- một xưởng sản xuất tất-cả-trong-một liên quan tới việc sản xuất bán dẫn. Đó là một ngành công nghiệp xuất phát từ Thung lũng Silicon.
Các công ty tích hợp dọc vẫn tồn tại. Intel tại Santa Clara, công ty một mình chiếm trên dưới 15 phần trăm lượng chip bán ra trên toàn cầu, là một ví dụ điển hình. Nhưng vào cuối thập niên 80, một mô hình khác -- mô hình thiết kế không nhà máy -- bắt đầu xuất hiện và phát triển không ngừng.
Sự vận động nội tại của ngành công nghiệp đã thúc đẩy sự thay đổi này. Dần dà, số tiền cần đầu tư vận hành nhà máy đơn giản là trở nên quá lớn với bất cứ công ty nào trừ những kẻ hùng mạnh nhất. Ngay cả có tiền thì việc này cũng mạo hiểm. Có một nhà máy sản xuất chip, Maia giải thích, thì tuyệt vời khi ăn nên làm ra. Nhưng ngành công nghiệp chip lên xuống rất thất thường và khi không thuận lợi, "Các nhà máy là gánh nặng như đeo đá."
Nhưng nếu bạn không có nhà máy, thì bạn sản xuất chip bằng cách nào? Bạn không thể đến gõ cửa một đối thủ cạnh tranh và nhờ giúp đỡ được. Để cái niche cho ngành thiết kế chip không nhà máy phát triển, thì nó cần một cái niche khác ra đời. Đó là ngành sản xuất chip theo-đơn-đặt-hàng, được khởi xướng bởi Morris Chang, người thành lập ra công ty TSMC của Đài Loan, ban đầu là một công ty cổ phần giữa chính phủ Đài Loan và công ty Điện tử Philips.
Chang được sinh ra ở Trung Quốc và từng làm việc với Texas Instruments ở Hoa Kỳ trong vòng 20 năm. Sau đó ông ta di trú sang Đài Loan, nơi mà ông ta phát hiện ra nếu chú trọng việc sản xuất theo-đơn-đặt-hàng cho các doanh nghiệp bên ngoài, ông ta sẽ tự bảo vệ được mình khỏi những thất bại của các khách hàng đơn lẻ. Cùng lúc, ông ta có thể giúp các nhà thiết kế khỏi phải đầu tư tất cả những thứ cần thiết để sản xuất. Đó là một phát kiến mang lại lợi ích cho cả hai phía. Ngành thiết kế không nhà máy bây giờ chiếm tới 16 phần trăm thị phần của cả ngành bán dẫn và tăng lên hàng năm.
Nhưng việc loại các nhà máy sản xuất fab khỏi các công ty sản xuất chip chỉ là quân Domino đầu tiên của quá trình sản xuất chip. Nếu dựa vào một công ty bên ngoài để sản xuất chip là tốt theo tư duy kinh tế, thì dĩ nhiên câu hỏi tiếp theo là phần nào của dây chuyền sản xuất có thể loại bỏ tiếp nữa?
Tiếp theo trong phần bị cắt bỏ: Lắp ráp và thử nghiệm. Có con chip sản xuất ở Đài Loan rồi, thì chở về Santa Clara để kiểm tra và đóng gói, rồi lại chở về Đài Loan hay Malaysia hoặc Trung Quốc để lắp vào một chiếc máy chơi CD hay điện thoại di động hay là một cái lò nướng tối tân để làm gì? Rõ ràng là dựa vào các công ty chuyên làm việc này đặt ở gần nơi sản xuất hơn sẽ hiệu quả hơn.
Và sự thật đúng như thế. Sự tiến hóa của ngành thiết kế chip đã không ngừng chạy theo một quy trình gọi là "sự phân rã dọc." Từng bước một trong dây chuyền sản xuất được chuyển cho những công ty có thể làm việc đó rẻ hơn và hiệu quả hơn, bỏ lại các công ty ở phía đầu trong chuỗi mắt xích ngày càng chú trọng vào giá trị cốt lõi của họ hơn. Các xưởng sản xuất tất-cả-trong-một đã được thay thế bằng cái mà các nhà hàn lâm gọi là các "mạng lưới sản xuất đa quốc gia."
Sự lên ngôi của các mạng lưới sản xuất đa quốc ra, phân rã dọc có thể được nhìn như một minh chứng thuyết phục của sự vận hành của thị trường tự do. Các cá thể, như PortalPlayer, thường xuyên tìm kiếm những lợi ích cạnh tranh, bỏ qua tất cả các phần mà người khác có thể làm rẻ hơn hoặc hiệu quả hơn mà chú trọng vào mảng R&D (Nghiên cứu & Phát triển) của phần việc mà họ có thể làm tốt nhất. Các đại lộ rộng lớn liên kết các công viên doanh nghiệp ở Thung lũng Silicon ních chặt hàng trăm công ty làm đúng một việc y hệt như thế.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bạn phân rã mọi thứ. Nếu Ấn Độ có thể thiết kế và Đông Á sản xuất thì Thung lũng Silicon làm gì? Ăn trưa với các nhà đầu tư mạo hiểm? Gặp gỡ phóng viên báo chí? Hay bỏ không các tòa nhà văn phòng?
Tôi hỏi Maia ông ấy có lo lắng về việc một công ty start-up mới ở Thượng Hải đến gõ cửa Apple ngày mai giới thiệu cho họ một con chip cho máy nghe nhạc số thế hệ mới -- nhanh hơn, rẻ hơn, mạnh mẽ hơn tất thảy không?
"Ồ, chúng tôi lúc nào cũng lo lắng," Ông vừa nói vừa cười. Nhưng ông không sợ. Ông ta tin rằng Thung lũng sẽ tìm ra cách để giữ vị thế độc tôn. "Các phát kiến và các thứ mới nhất vẫn chủ yếu đến từ Hoa Kỳ," ông nói. Maina có lưu ý là tất cả các "công ty hải ngoại" -- các công ty chip ở Trung Quốc và Đài Loan và Hàn Quốc -- đều muốn có xưởng ở Thung lũng Silicon, "để họ nghe ngóng được động thái."
Maia nói "động thái" với ý là các phát kiến mới nhất ở thiết kế, cái cốt lõi đến từ trung tâm lịch sử của thị trường máy tính toàn cầu. "Chúng tôi ở đây," Maia nói. "Chúng tôi là động thái. Chúng tôi hành động."
Thật vậy, chỉ một hai tòa nhà từ trụ sở của PortalPlayer, có công ty Bán dẫn Hynix, một doanh nghiệp sản xuất chip Đài Loan. Ở nền kinh tế toàn cầu, thì tốt hơn là cả thế giới đến với Thung lũng Silicon như Thung lũng đã vươn ra thế giới.
Tôi phỏng vấn Chowdary, JA. (?) của PortalPlayer Ấn Độ là điều gì đang ngăn cản các nhà thiết kế chip ở Ấn Độ làm việc trực tiếp với các nhà sản xuất ở Châu Á, bỏ qua kẻ trung gian ở Silicon Valley. Ông ta nhắc đến "tam giác vàng" của các nhà thiết kế Hoa Kỳ, các kỹ sư Ấn Độ và các nhà sản xuất ở Trung Quốc, ở thế chân vạc mà mang lại lợi ích cho tất cả trong một thời gian rất dài. "Thiết kế và kiến trúc đến từ Hoa Kỳ. Việc phát triển được làm ở Ấn Độ với một giá tương đối rẻ với một nguồn nhân lực coogn nghệ cao khổng lồ. Và phần sản xuất được làm với giá chấp nhận được ở Trung Quốc. Mỗi quốc gia có một vai trò và đóng góp quan trọng tới sự thanfhc ông của quy trình sản xuất và xuất khẩu nhưng sản phẩm có tính cạnh tranh toàn cầu cao. Mô hình này sẽ tiếp tục phát triển một cách bền vững dài lâu."
Ở một thế giới hoàn mỹ, cái "tam giác vàng" sẽ là một giấc mơ toàn cầu hóa trở thành sự thật. Mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ, đóng góp phần mà nó làm được tốt nhất, và những liên kết chặt chẽ sẽ làm cho mọi thứ làm việc trơn tru mà không có ma sát. Một cơn thủy triều sẽ làm cho tất cả tàu thuyền dâng lên cùng nó.
Việc đấy có thể xảy ra. Các con số về người mất việc và người thất nghiệp ở Santa Clara không chứng minh là Thung lũng đang tàn lụi. Cũng rất có thể, theo nhà kinh tế học Cynthia Kroll ở Đại học California ở Berkeley, là các tòa công sở trống trơn là kết quả của việc xây dựng thừa thãi trong thời kỳ bong bóng dot-com khi mọi người dần chuyển sang triển khai ở nước ngoài. Bị ảnh hưởng của thời kỳ bong bóng, Thung lũng bây giờ cẩn thận hơn.
"Rất khó mà gỡ mối rối giữa làn sóng đầu tư ra nước ngoài với sự yếu kém của nền kinh tế," Greg Linden, một nhà nghiên cứu về ngành công nghệ bán dẫn toàn cầu ở Berkeley nhận xét.
Cũng rất khó phủ nhận ý kiến ủng hộ việc triển khai ở nước ngoài cho rằng các công ty như PortalPlayer sẽ không bao giờ tồn tại nếu như họ không dựa rất nhiều vào việc đầu tư ra nước ngoài. Nói một cách khác, 80 nhân viên mà PortalPlayer có ở Hoa Kỳ sẽ không trụ được nếu không có 100 người kia ở Ấn Độ.
Nhưng cũng có những yếu tố khác cần xem xét trong thế giới hoàn mỹ của tam giác vàng toàn cầu hóa. Ngành công nghệp chip là một trong những ngành thống lĩnh của nền kinh tế công nghệp hóa. Nếu việc thuê nước ngoài tạo ra một làn sóng cho sự chuyên nghiệp hóa và khiến cho khả năng sản xuất chuyển qua các địa điểm ngoài nước Mỹ, thì những hậu quả lâu dài có thể rất nặng nề. Cho nên Lầu năm góc lo lắng rằng họ không thể tìm được những nhà cung cấp nội địa cho các con chip cần thiết để tạo được những hệ thống vũ khí đời mới. Các nhà kinh tế thì lo lắng về tình hình nhập siêu ngày càng trầm trọng.
Một điểm lạ thường của toàn cầu hóa là quyết định của các xưởng sản xuất không nhà máy để làm lợi cho chính họ -- giảm chi phí -- lại là cạm bẫy được gài từ các chủ thể quốc gia chú trọng đến chiến lược mấu chốt. Không phải là ngẫu niên mà Đài Loan trở thành lá cờ dẫn đầu trong ngành sản xuất chip đặt hàng tối tân, hoặc là Trung Quốc đang có vẻ như đi theo con đường của người hàng xóm nhỏ hơn mình rất nhiều lần. Trước khi Chang thành lập TSMC, ông đã điều hành một viện nghiên cứu quốc ra có chiến lược về phát triển công nghệ. Ở cả Đài Loan và Trung Quốc, chính phủ khuyến khích ngành công nghiệp chip bằng việc miễn trừ thuế, các lợi thế về đất đai, tiền vốn và một loạt các lợi ích khác.
Đó là vì các chính phủ và các nhà cầm cán cân kinh tế ở Đông Á coi ngành công nghiệp chip không chỉ là một nguồn lợi về mặt kinh tế mà còn là một thành phần chủ chốt của sức mạnh dân tộc. Cho nên khi mà các công ty không nhà máy cố gắng bỏ đi các phần không thiết yếu, thì Đông Á hăm hở đón nhận mọi thứ mà họ có thể làm. Và kết quả là, "sự phân rã" của một bên dẫn tới "sự tích hợp" của bên kia. Hãy nhìn vào con chip của PortalPlayer: Sản xuất ở Đài loan, kiểm nghiệp và đóng gói ở Đài Loan, Hàn Quốc hay Trung Quốc, và cấy vào trong iPod ở Trung Quốc.
"Nguồn cung của thị trường đã chuyển qua Châu Á," Len Jelinek, một nhà phân tích của iSuppli, nhận định.
Sự chuyển biến này làm nhiều người rất quan ngại -- và họ không chỉ là những người kỹ sư mất việc. Họ sợ rằng R&D sẽ đi theo nơi sản xuất. Nếu bạn là một kỹ sư rành rõi muốn làm việc với các công nghệ mới nhất trong quy trình sản xuất chip, bạn sẽ bị kéo tới không phải Thung lũng Silicon mà tới những nhà máy chip ở Châu Á. Cho nên, ví dụ, những kỹ sư được sinh ra ở nước ngoài lấy bằng Ph.D. ở Stanford và Berkeley, những người đáng lẽ ra có việc ở Thung lũng, thì sẽ ngày càng có xu hướng trở về nhà khi họ có thể làm việc với đúng ngành của mình. Đó là nơi các kỹ sư được đào tạo để sử dụng các công cụ mới nhất, và đó dễ là nơi mà những sáng kiến công nghệ mới được phát minh ra.
Đó cũng là lý do tại sao các nhà phân tích ở Thung lũng Silicon và các nhà hoạch định chính sách ở Washington đang đặt rất nhiều câu hỏi bức thiết. Các mẫu thiết kế chip mới nhất có trở thành mắt xích tiếp theo sẽ vượt biên không? Điều gì sẽ xảy ra nếu quân đội Mỹ cần một con chip mới thiết kế đặc biệt nhưng mà tất cả những phân xưởng cần để sản xuất ra nó đều ở Trung Quốc? Những PortalPlayer có thể duy trì một bước trước những đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài không? Hay có phải Thung lũng Silicon đã sinh ra chính hậu duệ của họ bằng việc bỏ qua khâu sản xuất và những việc "không quan trọng" khác?
Khi lượng nhập siêu vào Mỹ từ Trung Quốc tiếp tục tăng lên từ mùa xuân năm 2005, cùng với các dấu hiệu của nền công nghiệp chip của Trung Quốc đang tiến bước với một tốc độ đáng nể, thì những câu hỏi này được đưa ra ngày càng thường xuyên hơn. Vào tháng tư, Ủy ban Phòng chống Chảy máu chất xám khoa học, một hội đồng tư vấn cho Lầu năm góc, công bố một bản báo cáo dài 118 trang cảnh báo rằng các công nghệ sản xuất bán dẫn thiết yếu đang du nhập vào Châu Á, cụ thể là Trung Quốc. Cũng vào cuối tháng Tư, ở các buổi dự thính để đánh giá độ phát triển công nghệ cao được tổ chức trước Hội nghị Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ-Trung Quốc, các diễn giả nối tiếp nhau thừa nhận sự lớn mạnh nhanh chóng của ngành công nghiệp sản xuất chip của Trung Quốc. Trong khi đó, các nhà đầu tư mạo hiểm ở Thung lũng Silicon vẫn đang tiến bước qua bờ biển Thái Bình, đổ hàng triệu đô la cho các doanh nghiệp startup trong lĩnh vực thiết kế chip ở Trung Quốc.
Liệu một trong số những doanh nghiệp startup kia có một ngày truất ngôi của PortalPlayer không? Liệu những tòa nhà chọc trời ở Thượng Hải có đổ bóng xuống các công viên công nghệ cao ở Santa Clara, Mountain View, Mipitas và San Jose không? Mấy năm trở lại đây, nếu bạn thảo luận về những thách thức của việc toàn cầu hóa ở Thung lũng Silicon, chủ đề thường là Ấn Độ, với đội ngũ lập trình viên giá cả phải chăng đông đảo. Nhưng ngày nay, rất có thể, quốc gia trong tâm trí mọi người là Trung Quốc.
]]>"Thiện thì tốt hơn là ác vì nó đẹp hơn." -- Pansy Yokum.
Làm cách nào để chúng ta phân biệt thiện và ác, hay là đúng và sai? Đôi khi việc này khá dễ: Giết người vô căn cứ là ác. Nhưng có nhiều lúc việc này khó, hoặc ít ra là gây tranh cãi: Phá thai thì có ác không? Và còn án tử hình, hay là dùng ngôn ngữ phân biệt chủng tộc, hay là bầu cho đảng Cộng hoà? Bạn có thể nghĩ rằng câu trả lời là hiển nhiên với mình, nhưng chắc chắn là bạn có những người hàng xóm không đồng tình với ý kiến của bạn.
]]> Điều mà chúng ta cần là một thứ định nghĩa triết học về thiện-ác -- hay là một căn cứ để xác định cái gì là đúng và cái gì là sai.Những nhà triết gia từ lâu đã tìm kiếm định nghĩa về Chân lý Thiện-Ác, nhưng tôi nghi ngờ rằng có vẻ những nỗ lực đó bị chệch hướng. Như mọi thứ khác về con người, bản năng về cái thiện là một loạt những tai nạn; chắc chắn rằng cái xã hội mà gồm toàn những con mèo thông minh tột bực sẽ có những giá trị khác hẳn so với xã hội của những con khỉ thông minh tột bực. Từ đó, có vẻ như rằng bất cứ nỗ lực tìm kiếm Chân lý Thiện-Ác nào cũng viển vông như tìm kiếm về Chân lý Hệ thống Tiêu hoá vậy.
Cho nên, cái thiện, là một tai nạn về mặt sinh học. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta không quan tâm đến nó. Thật ra, gần như mọi thứ chúng ta quan tâm trong xã hội này là những tai nạn về mặt sinh học. Ví dụ, màu xanh là một tai nạn về mặt sinh học. Cái bãi cỏ trước nhà và màu của cái áo len của bạn phản xạ những tia sáng khác hẳn nhau; chính mắt người và não người giải mã những tia sáng này là "cùng màu." Nếu mắt và não bạn cấu tạo theo cách khác, cái bãi cỏ có thể có cùng màu với cái xe hoả và cái áo len của bạn có thể có cùng màu với lòng trứng. Từ đấy chúng ta có thể sẽ phát minh ra những cái tên cho những màu này, nhưng không cái nào giống cái định nghĩa mà chúng ta đang có về "màu xanh."
Từ đó, thời gian -- hay ít ra là cái sự khác biệt hiển nhiên giữa thời gian và không gian -- cũng là một tai nạn về mặt sinh học. Nhà vật lý học Richard Feynman có lần đã yêu cầu các sinh viên của mình tưởng tượng ra một thứ sinh vật mà ghi nhận "chiều dài" và "chiều rộng" là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt. Sinh vật đó không thể nhận biết được điều mà hoàn toàn hiển nhiên với bạn và tôi -- là cái sự khác biệt giữa chiều dài và chiều rộng không phải là do vật lý, mà là giác quan (Có thể thấy tương tự với Flat World - Bi). Còn không gian và thời gian, thì sinh vật đó cũng như chúng ta. Chúng ta không thể nhận ra được là sự khác biệt giữa không gian và thời gian chỉ là một thứ giới hạn của giác quan (vì rằng là thời gian và không gian có thể thay thế cho nhau một phần nào đó bằng tốc độ cực lớn, như thể rằng là chiều rộng và chiều dài có thể thay thế cho nhau bằng cách thay đổi hướng đi quanh vật thể). Thời gian là một thứ mà não con người tự bịa ra.
Màu sắc là một thứ giác quan sinh học, nhưng điều đó không làm cho chúng ta lẫn lộn giữa người nhuộm tóc nâu và người nhuộm tóc tím. Thời gian là một giác quan sinh học, nhưng điều đó không có nghĩa rằng bạn có thể trễ bữa tối. Cái thiện là một giác quan sinh học, nhưng điều đó không làm cho việc lấy hàng xóm của bạn làm bia tập bắn là một việc chấp nhận được.
Điều đó có nghĩa là những giá trị thiện ác không thể là những định nghĩa mơ hồ để thay thế cái mà chúng ta thật sự trải nghiệm được. Có thể cái chúng ta có thể làm, là thử ướm những cái triết lý về cái thiện từ sách vở và xem nó hợp tới cỡ nào. Với cá nhân tôi, tôi luôn ướm thử những thứ tương đối đơn giản và không có nhiều mâu thuẫn nội tại, nhưng điều tối quan trọng là thứ triết lý đó phải hợp với những giá trị đạo đức tối cao của con người: Một thứ triết lý nói rằng việc cắt tai của một đứa trẻ là luôn chấp nhận được là một thứ triết lý tồi.
Các triết lý hiện tại có hai kiểu. Triết lý xét theo kết quả (consequentialist philosophy) xét đến hành động bằng kết quả của nó, và triết lý xét bằng bản thân hành động (? - deontological philosphy) xét trực tiếp tới hành động đó có được làm hay không.
Nếu định nghĩa trên quá mơ hồ, hãy xét một ví dụ cụ thể: Tưởng tượng một người phụ nữ trông rất hoảng loạn và sợ hãi chạy qua bạn và trốn vào trong một con hẻm nhỏ. Hai phút sau, một người đàn ông cầm một cái rìu vẻ mặt giận dữ tiến gần tới bạn và hỏi, "Cô ta đi theo hướng nào?" -- thì có nói dối có chấp nhận được không? Xét theo bản thân hành động đó thì nói dối là sai, chấm hết. Nhưng nếu xét theo kết quả của hành đọng, thì nói dối là chấp nhận được vì bạn đang cứu mạng một người.
Không phải nhà ai hủng hộ triết lý theo kiểu bản thân hành động cũng đồng ý nói dối là sai, nhưng mọi nhà triết gia ủng hộ triết lý kiểu đó (trên định nghĩa) đều thựa nhận rằng có những thứ là luôn sai. Điều không thuyết phục tôi với kiểu lý luận này là tôi không thể kiếm ra được cái gì mà luôn sai. Tôi sẽ rất vui mừng cắt tai một đứa trẻ con nếu việc đó chữa được bệnh sốt rét.
Một ví dụ khác: Chúng ta đều biết rằng việc cầm một khẩu súng ra ngoài đường ngắm theo một hướng bất kỳ bóp cò là không chấp nhận được. Tại sao thế? Triết học xét theo bản thân hành động có thể lý luận rằng việc xâm phạm cơ thể người khác vô cớ là một việc hiển nhiên sai. Có thể bạn đã nghe tới câu này ở đâu đó đại loại như "Làm gì tôi không quan tâm, đừng có chọc sau lưng tôi."
Nhưng mà lấy việc này làm kim chỉ nam cho hành động của bạn, thì sẽ không bao giờ áp dụng được. Lấy nguyên định nghĩa, nó sẽ là lý do cho việc bạn làm người khác bại liệt. Thế nào là "đừng chọc sau lưng tôi"? Cái đèn bàn một trăm watt của bạn bắn khoảng mười triệu tỷ photons mỗi giây vào cơ thể của một người lạ mặt đi qua cửa sổ nhà bạn. Bạn không chỉ chọc sau lưng anh ta, mà bạn chọc cả vào nội tạng của anh ta nữa.
Chúng ta đều đồng ý rằng bật đèn bàn thì được còn giết người hàng loạt thì không. Nhưng chúng ta phải vạch cái ranh giới màu ghi giữa đen và trắng ở đâu?
Một cách nhìn khác với cách nhìn vào bản thân hành động là nhìn vào kết quả hành động: Nói dối thì chấp nhận được khi kết quả tốt, và không chấp nhận được khi kết quả là xấu. Dùng đèn bàn để bắn photons vào cơ thể mọi người thì được vì nó có hậu quả cực kỳ nhỏ bé, còn bắn đạn chì vào cơ thể người khác vì hậu quả của nó rất lớn.
Các nhà triết gia dùng những dilemma để vạch ra ranh giới giữa kiểu xét theo kết quả và kiểu xét theo hành động. Đây là ví dụ mà gần đây mang lại rất nhiều chú ý:
Cái xe goòng, phiên bản 1. Một cái xe goòng đang phóng như bay trên một cái đường ray, tiến thẳng đến năm người đang bị trói chặt trên ray bởi một tay triết học gia bị điên. Bạn có thể gỡ được thảm hoạ này bằng cách gạt một cái công tắc mà làm cho cái xe goòng phi đến một cái đường ray khác. Tuy nhiên, trên cái đường ray khác đấy lại có một người bị trói. Thế thì việc gạt cái công tắc có là một hành động thiện không (và cũng trong cùng một vấn đề đó, việc gạt cái công tắc có là một việc bắt buộc phải làm không)?
Cái xe goòng, phiên bản 2. Một cái xe goòng đang phóng như bay trên một cái đường ray, tiến thẳng đến năm người đang bị trói chặt trên ray bởi một tay triết học gia bị điên. Bạn có thể gỡ được thảm hoạ này bằng cách đẩy một người ra trước để chặn cái xe gòng đó (~ anh ta sẽ chết). Thế thì việc đẩy cái người đó có là một hành động thiện không (và cũng trong cùng một vấn đề đó, việc đó có là một việc bắt buộc phải làm không)? (Chú thích: Trong trường hợp bạn định chứng tỏ cái chân thiện của mình bằng cách tự nhảy vào trước mũi cái xe goòng để dừng nó lại, để giữ tranh luận không chệch hướng, hãy cùng cho rằng bạn không thể làm thế; bạn quá bé để dừng cái xe goòng.)
Theo các điều tra, đa số mọi người sẽ gạt cái công tắc trong phiên bản một nhưng sẽ không đẩy người trong phiên bản 2. Với một triết gia xét về bản thân hành động, việc này hoàn toàn có lý: Đẩy người vào trước mũi cái xe goòng là sai và vì thế bạn không nên làm, bất kể là bạn làm việc đó với dụng ý tốt. Nhưng với một triết gia xét về kết quả, việc này có vấn đề. Cả hai hành động đề dẫn đến một kết quả: Năm mạng người được cứu sống, một người phải chết. Nếu hành động nên được xét bằng kết quả của nó, thì gạt cái công tắc và đẩy một người ra trước mũi xe là hoàn toàn tốt như nhau (hoặc là hoàn toàn xấu như nhau).
Một điều thú vị là, những người bị tổn thương một vùng não gọi là ventromedial prefrontal cortex (thuỳ não trước) có xu hướng trả lời câu hỏi ở trên theo hướng kết quả hơn. Họ gạt cái công tắc và họ đẩy người. Có thể tôi là một trong số những người bị hỏng não, bởi vì khi tôi nhìn thấy những câu hỏi này lần đầu tiên, thì tôi cảm thấy rõ ràng là không có cái gì ngăn cản tôi hy sinh một người cho năm người. Thật ra, tôi khá bất ngờ khi mà tôi biết được có ai đó -- chứ đừng nói là số đông -- tin rằng họ có câu trả lời khác.
Dĩ nhiên, nếu tôi là người bị đẩy vào trước mũi cái xe goòng, tôi có thể nghĩ khác. Nhưng đó là vấn đề của lợi ích cá nhân chứ không phải là thiện ác. Điều cốt yếu của những quyết định thiện ác là nó không dính dáng gì đến lợi ích cá nhân.
Nói cách khác, những quyết định thiện ác của bạn là những quyết định mà bạn sẽ làm nếu mà bạn bằng cách nào đó quên được bạn là ai và bạn đóng vai trò nào trong số những người liên quan. Có cách nào biết được việc đánh thuế những người giàu để cho những người nghèo là thiện hay ác? Chúng ta bị gắn vào cái cách suy nghĩ của cả hai phe người giàu nói không và người nghèo nói có. Cái người mà đáng tin ở đây là một người mất trí không biết anh ta giàu hay là nghèo.
Cái "định luật mất trí" này được đưa ra bởi John Harsanyi, một nhà kinh tế đoạt giải Nobel, người mà trước khi chuyển qua lĩnh vực kinh tế học, đã đoạt một giải toán quốc gia ở bản quốc của ông ta ở Hungary và sau đó nhận một bằng PhD về triết học. Harsanyi chú ý tới những câu hỏi đại loại như thế này: Sẽ tốt hơn nếu mọi người cùng lĩnh lương $50,000 một năm, hay là hai phần ba chúng ta lãnh $60,000 và một phần ba lãnh $40,000? Dĩ nhiên câu hỏi ở đây là: Thế "tốt" có nghĩa là gì? Theo Harsanyi, một thế giới tốt hơn là (theo định nghĩa) cái thế giới mà bạn muốn sinh ra ở đó, mà không biết bạn sẽ rơi vào cái hai phần ba thu nhập cao hay cái một phần ba thu nhập thấp.
Bạn có thể đặt lại câu hỏi thế này: Trong một cái thế giới có ba người (tên là Manny, Moe và Jack), thì cả ba cùng lãnh $50,000 tốt hơn hay là Manny và Moe lãnh $60,000 và Jack lãnh $40,000? Câu trả lời, theo Harsanyi, là cái mà bạn sẽ chọn nếu bạn đang ở trạng thái mất trí và không biết mình là ai.
Nhưng mất trí là một thứ khó tưởng tượng, cho nên rất khó mà tin những cái câu trả lời của những người bị đặt vào cái giả thuyết "Nếu bạn bị mất trí..." Cách giải quyết là đừng nghe những gì họ nói, hãy xem những gì họ làm . Tìm, cho ví dụ, một người bán hàng và cho họ chọn giữa khoản cố định $50,000 một năm hay là hai phần ba cơ hội lĩnh $60,000 và một phần ba cơ hội lĩnh $40,000. Cái lựa chọn của anh ta lúc đấy nói cho bạn biết cái phân bổ thu nhập anh ta thích hơn. Và nếu bạn tìm được rất nhiều người bán hàng ở cùng cái vị trí đó mà trả lời cùng một kiểu như thế, thì bạn có thể suy luận ra là cái thế giới nào tốt hơn.
Ví dụ ở trên khá mơ hồ. Trong thế giới thực của chúng ta, những người hoạch định chính sách không có quyền chọn giữa những tuỳ chọn phân bố thu nhập. Thay vào đó, họ phải làm những việc như thiết kế hệ thống thuế và phúc lợi xã hội, những điều mà có những ảnh hưởng gián tiếp tới phân bố thu nhập. Năm 1996, nhà kinh tế người Anh, Ngài James Mirrlees, và nhà kinh tế học người Canada-Hoa Kỳ William Vickrey đã nhận giải thưởng Nobel một phần vì việc nghiên cứu lý thuyết mất trí của Harsanyi, làm cho nó có thể áp dụng vào những câu hỏi về chính sách trên thực tế.
Tôi muôn áp dụng lý thuyết mất trí vào câu hỏi cái xe goòng. Trong phiên bản thứ nhất, năm người bị trói vào môt đường ray và một người bị trói vào cái đường ray kia. Nếu tôi vì lý do nào đó quên mất tôi bị trói vào cái đường ray nào, thì ít ra tôi biết rằng: Khả năng tôi bị trói vào cái đường ray có năm người lớn gấp năm lần khả năng tôi bị trói vào cái đường ray một người. Khả năng tôi bị chết vì là bạn không gạt cái công tắc cao gấp năm lần khả năng tôi bị chết nếu bạn gạt nó. Cho nên, tôi hy vọng rằng bạn gạt cái công tắc.
Trong phiên bản thưa hai, năm người bị trói vào đường ray và một người bị thành vật hy sinh vì bị đẩy vào trước mũi cái xe. Tôi, một nạn nhân mất trí, biết rằng khả năng tôi là người bị trói cao hơn gấp năm lần. Cho nên, khả năng tôi bị chết cao hơn gấp năm lần nếu bạn không đẩy người kia vào trước mũi tàu. Tôi hy vọng rằng bạn đẩy anh ta.
Trong một chừng mực nào đấy thì những tính toán ở trên hoàn toàn dụa vào lợi ích cá nhân, nhưng xét theo cách khác thì nó hoàn toàn trái ngược với nhận định trên. Miễn là tôi không biết mình là ai (và miễn là tôi nghĩ rằng cơ hội mình tơr thành một trong những người đó là như nhau), thì cái "lợi ích cá nhân" của tôi là lợi ích của tất cả mọi người. Đó là điều mà một quyết định thiện cần phải theo, và đó là lý do tại sao tôi tin rằng cùng gạt cái công tắc và đẩy người ra trước mũi cái xe là quyết định thiện hơn.
Bây giờ, những nhà triết gia đang lắng nghe, nếu đang suy nghĩ về việc này, sẽ cố gắng làm mọi cách cho tôi cảm thấy khó chịu bằng cách đẩy mọi lý giải tới giới hạn của nó. Cho ví dụ, triết học gia Judith Jarvis Thompson, đề ra câu hỏi như thế này:
Câu hỏi của nhà giải phẫu học. Một nhà giải phẫu học có năm bệnh nhân, mỗi người cần một thứ nội tạng, và mỗi người trong số họ sẽ đều chết nếu không có nội tạng thay thế. Đáng tiếc là, không có nội tạng thừa để tiến hành bất cứ một cuộc giải phẫu nào. Trong một lần khám cho bệnh nhân, ông ta phát hiện ra rằng tất cả các nội tạng của một người du khách đều tương thích với tất cả năm bệnh nhân đang chờ chết của ông ta...
Như đã nói, vấn đề quá đơn giản. Không ai muốn sống trong một thế giới mà các nhà giải phẫu thi nhau đi lấy nội tạng của những người du khách khoẻ mạnh một cách ngẫu nhiên, và rất dễ giải thích điều này. Thứ nhất, như thế sẽ có rất ít lý do để tự chắm sóc sức khoẻ của mình; cần gì phải xem lượng cholesterol trong máu trong một thế giới mà những quả tim hoạt động bình thường được coi như là tài sản công ích? Thứ hai, sẽ không có mấy người dại gì đi du lịch cả. Tôi sẽ rất sẵn sàng cắt cái buổi hội thảo hàng năm của Hội Những nhà Kinh tế học Hoa Kỳ để thay vì trở thành con mồi của một nhà giải phẫu học lấy triết học làm thú vui tao nhã.
]]>I have released the universal firmware version for the Chronos watch, what essentially means that you don't have to compile the firmware with your private key anymore, so even if you aren't that familiar with compiling stuff, you can still have some Google Authenticator goodness.
Just flash the firmware with any flasher (Wireless flashing with Chronos Control Center works!), then sync it with the sync.py script (do not use Chronos Control Center to sync time!). You'll have to supply the script with your timezone and private key. Remember to use python3, python2 won't work.
]]>Today, from what I can tell, the majority my troubling time is gone for good. I like how many of unfortunate things have changed to wonder, and how fruitful Life is.
Through the shroud of mystery,
Turn a page of history,
Feeling more than you can see,
Down at the Renaissance Faire.
Hear the minstrels play their tunes,
They will play the whole night through,
Special songs for me and for you,
And anyone whose heart is true...
A friend of mine has told me that it is the end of the beginning -- I think it is indeed, today has marked the end of the beginning. Just not for what he said :-). Keep on reading for some Blackmore's Night goodness.
]]> ]]>NLclothing:
PROTIP: The key to happiness is doing whatever makes you happy, it will never be the same for everybody.
pawz68:
It's that easy.....really. I suppose the difficult part is that some people have a difficult time deciding what really makes them happy.
HaveSomeVictoryGin:
That and the fact that so many people confuse what makes other people happy with what makes themselves happy.
Attempting to say that this would result in a paradox as far as the universe is concerned is anthropomorphizing the universe to an absolutely unforgivable degree. Sure, it makes for a good time travel story, but the universe won't lose any sleep over it, any more than it does for me writing "The next phrase is false." "The previous phrase is true." "Both the previous phrases are true" "The previous phrase is true" There's no paradox. The universe doesn't suddenly go wonky, and cats mate with dogs, etc.
-- http://science.slashdot.org/comments.pl?sid=1731658&cid=33022950
Yesterdays SMBC had a good point:
You can not have any motivation or objective if you are going to travel otherwise the act of time travel is a paradox. SMBC put it thusly: if you are travelling to change some outcome, and you succeeded, you would not have had the motivation to time travel to make that change.
SMBC's conclusion was that only nitwits have the capacity to time travel and the fact that there seem to be so many confirms that time travel must be going on right now.
But another way to say this is, you can only choose objectives that either already happened in your past or are inevitable no matter what you do.
For example, You could however travel with the objective of sinking the Titanic, but not the objective of preventing the sinking. If you saved the titanic, it would never occur to you to try to save the titanic.
For example, If your objective was to save Abe Lincoln and you succeeded, then it never would have occurred to your pre-travel self that you needed to go back and save abe lincoln.
What all this adds up to I think is that time travel is still forbidden but observational time travel-- gathering information-- is not forbidden.
There is an interesting proof regarding the computability of any proposition by David Wolpert that shows time travel is forbidden unless the information you gain by doing so is probabilistic or faulty. That is he proves rigorously that it is not possible to answer any arbitrary true/false question about the past with perfect fidelity. Thus time travel that preserves information with fidelity is forbidden. Error prone time travel is however allowed.
-- http://science.slashdot.org/comments.pl?sid=1731658&cid=33023080
]]>So I'm going to turn 23 next August, which is surprisingly unsurprising. Being older, and having insomnia is the root of all evil.
So that one night I was thinking about how my life progressed. Most of my childhood was spent in a small village near Hanoi. My family was poor at the time. Being poor is not exactly the best for my curiosity that the time, what it means was toys are the last thing one is gonna have, and birthdays are overly overrated. Luckily I had my own happiness digging through the old toy stack of my auntie who was trading old toys in bulk at the time. My older brother and I would spend the whole day opening old toys, harvesting batteries, sound chips, light bulbs, speakers, capacitors, motors and tied them together to make them work. We were toy-destroyers. We harvested to the point that when her husband wanted to get one random toy, he couldn't find a single one that worked. I remembered when I was 10, I teared up one of the rare toy that my Dad gave me: A cute digital alarm clock that can announce date and time. I managed to assembled the clock back, it worked fine after that, I think. But not for a very long time.
It is wonderful how the expose to circuit boards back when I was 6 shaped my path. I always wanted to know things to the very inner workings of them. So eventually I came to software and open source. Open source is great: You don't have to pay for money to have them, and you can see how software works. You can see how and why it works to the bare metal. Understandings of the inner workings of things are the fuel that empowered me, and without accessible materials like the little toys and open-source software, I wouldn't have known what I know today.
Now I think I was always a lucky kid. I was lucky to have the old toys, I was lucky to go with software instead of hardware, because with software, one does not need money to access the materials. Unfortunately, not everything is freely accessible. Toys aren't free. Circuit boards, speakers, motors,... everything else needs money.
I think electric ICs and boards can change the life of many other people, too. So I have a little idea, a project: giving out circuit development kits for high-school and college students who are curious but too poor to afford one every year. Circuits for the Curious. I'm pushing the project forward and I'm glad that there are many people who think that is great and supported my idea. So this year, I decided instead of spending money on my birthday, I would make my birthday someone else's birthday, by initially seeding 23 TI development boards to Vietnam. I estimated this would set me back about $200 each year -- it looks like no more birthday for me. But that's fine, I can bear with it.
I'm asking you for change. I believe that together we can change the lives of talented kids in Vietnam.
If you like to discuss, contribute, and support the project, feel free to contact me.
]]>-- Archibald MacLeish
]]>